Cập nhật 17:28 ngày 21/09/2018
Các bệnh thường gặp | 20 tháng 07, 2017 | 13:39

Bệnh phù chân, nguyên nhân và cách điều trị nhanh khỏi

Nguyên nhân của bệnh phù chân và cách điều trị nhanh khỏi. Bạn đã bao giờ gặp tình trạng mu bàn chân, cẳng chân sưng to, các hố quanh các mấu xương cũng như bị “đầy” lên chưa? Nguyên nhân Phù nề chân là do sự tích tụ chất lỏng trong các mô ở bàn […]

Nguyên nhân của bệnh phù chân và cách điều trị nhanh khỏi. Bạn đã bao giờ gặp tình trạng mu bàn chân, cẳng chân sưng to, các hố quanh các mấu xương cũng như bị “đầy” lên chưa?

Nguyên nhân

Phù nề chân là do sự tích tụ chất lỏng trong các mô ở bàn chân và mắt cá chân, khiến chúng bị sưng lên. Hiện tượng này có thể được gây ra khi cơ thể đang sở hữu những bệnh nghiêm trọng về thận, tim, gan hoặc có vấn đề với các mạch máu. Bên cạnh đó, phù nề chân cũng do một số nguyên nhân khác dưới đây như:

– Chế độ ăn uống quá nhiều muối và carbohydrate

– Do dùng liệu pháp hormon thay thế thuốc tránh thai

– Hoóc môn thay đổi khi mang bầu

– Cơ bị chấn thương

– Dây tĩnh mạch bị trương

– Có lịch sử bệnh viêm tĩnh mạch

– Do phản ứng với dị ứng

– Tiền sản giật

– Thần kinh bị rối loạn

– Do chấn thương

– Lạm dụng thuốc nhuận tràng

– Lạm dụng thuốc lợi tiểu

– Lạm dụng ma túy

Phù xảy ra khi mạch máu nhỏ trong cơ thể bị rò rỉ dịch (mao mạch). Điều này có thể gây rò rỉ từ các mao mạch hư hỏng, tăng áp lực bên trong hoặc từ các mức giảm của các albumin huyết thanh – một loại protein trong máu. Khi cơ quan cơ thể đang bị rò rỉ mao mạch, thận bắt đầu giữ lại nhiều natri và nước hơn bình thường để đền bù cho các chất lỏng bị mất từ các mạch máu. Điều này làm tăng lượng nước lưu thông trong cơ thể, gây ra các mao mạch bị rò rỉ nhiều hơn nữa. Các dịch từ rò rỉ mao mạch vào các mô xung quanh, gây ra các mô bị sưng lên.

Trường hợp phù nhẹ có thể do

  • Ngồi hoặc ở trong một vị trí quá lâu.
  • Ăn quá nhiều thức ăn mặn.
  • Dấu hiệu và triệu chứng tiền kinh nguyệt.
  • Mang thai, có thể gây sưng ở tay, chân và mặt từ lưu giữ chất lỏng dư thừa.

Phù nề có thể là một tác dụng phụ của một số loại thuốc, bao gồm

  • Loại thuốc làm giãn các mạch máu (thuốc giãn mạch).
  • Chẹn kênh canxi (đối kháng calcium).
  • Chống viêm không steroid (NSAIDs).
  • Estrogen.
  • Một số thuốc tiểu đường được gọi là thiazolidinediones.
  • Trong một số trường hợp, tuy nhiên, phù nề có thể là một dấu hiệu của một tình trạng y tế nghiêm trọng hơn nằm bên dưới.

Bệnh và điều kiện có thể gây phù nề bao gồm

Suy tim sung huyết. Khi một hoặc cả hai buồng tâm thấp mất khả năng bơm máu hiệu quả, như xảy ra trong suy tim sung huyết, máu có thể giữ lại trong chân, mắt cá chân và bàn chân, gây phù nề.

Xơ gan. Bệnh này gây ra sẹo trong gan, cản trở chức năng gan, gây ra những thay đổi về hormon và hóa chất điều tiết chất dịch trong cơ thể cũng như làm tăng áp suất trong mạch máu lớn (cổng tĩnh mạch), trong đó mang máu từ ruột, lá lách và tuyến tụy vào gan. Những vấn đề này có thể dẫn đến chất lỏng tích tụ ở chân và ổ bụng (cổ trướng).

Bệnh thận. Khi bị bệnh thận, thận có thể không loại bỏ đủ chất lỏng và natri trong máu. Nước dư thừa và natri tăng áp lực trong mạch máu gây phù nề. Phù nề liên quan đến bệnh thận thường xảy ra ở chân và xung quanh mắt.

Thận bị tổn thương. Thiệt hại cho các mạch máu nhỏ trong thận (tiểu cầu) có bộ lọc chất thải và nước dư thừa từ máu có thể dẫn đến hội chứng thận hư. Một kết quả của hội chứng thận hư là mức thấp của protein (albumin) trong máu, có thể dẫn đến sự tích tụ dịch và phù nề.

Điểm yếu hay thiệt hại cho các tĩnh mạch ở chân. Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI) là một tình trạng trong đó các tĩnh mạch và van trong các tĩnh mạch ở chân bị suy yếu hoặc bị hư hỏng và không thể bơm đủ máu trở lại tim. Máu còn lại tăng áp lực trong các tĩnh mạch, gây phù.

Thiếu hệ thống bạch huyết. Hệ bạch huyết giúp cơ thể làm sạch chất lỏng dư thừa từ các mô. Nếu hệ thống này bị hư hỏng hoặc là do phù bạch huyết xảy ra hoặc vì một căn bệnh hoặc điều kiện y tế, chẳng hạn như ung thư hay nhiễm trùng, các hạch bạch huyết và mạch bạch huyết có thể không hoạt động chính xác và kết quả phù nề.

Yếu tố nguy cơ

Các bệnh và điều kiện sau có thể làm tăng nguy cơ phát triển phù nề:

  • Suy tim xung huyết.
  • Xơ gan.
  • Bệnh thận.
  • Hội chứng thận hư.
  • Suy tĩnh mạch mạn tính (CVI).
  • Huyết khối tĩnh mạch sâu.
  • Phù bạch huyết.

Do chất lỏng cần thiết cho thai nhi và nhau thai, cơ thể phụ nữ mang thai vẫn giữ được natri nhiều hơn và nước hơn bình thường, làm tăng nguy cơ phù nề.

Dùng một số thuốc, như loại thuốc giãn mạch, thuốc chẹn kênh canxi (đối kháng calcium), thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), estrogen và thuốc tiểu đường nhất định gọi là thiazolidinediones, có thể làm tăng nguy cơ phù nề.

Các biến chứng của bệnh phù

Nếu không chữa trị, phù nề có thể gây ra:

  • Ngày càng sưng đau.
  • Khó khăn đi bộ.
  • Độ cứng.
  • Căng da, có thể trở nên ngứa và khó chịu.
  • Tăng nguy cơ lây nhiễm trong khu vực bị sưng.
  • Sẹo giữa các lớp của mô.
  • Xơ các mô.
  • Giảm lưu thông máu.
  • Giảm tính đàn hồi của động mạch, tĩnh mạch, khớp và cơ bắp.
  • Tăng nguy cơ viêm loét da.

Các xét nghiệm và chẩn đoán

Để hiểu những gì có thể gây phù nề, bác sĩ sẽ thực hiện kiểm tra và yêu cầu những câu hỏi về bệnh sử.

Nếu bác sĩ nghi ngờ một điều kiện cơ bản là nguyên nhân gây phù nề, có thể đề nghị xét nghiệm nhất định để giúp xác định nguyên nhân. Các xét nghiệm có thể bao gồm:

  • Xét nghiệm nước tiểu.
  • Xét nghiệm máu.
  • Đo hoặc ước lượng áp suất trong mạch máu nhất định, chẳng hạn như trong tĩnh mạch huyết mạch xuất phát.
  • Chụp X – quang.

Ai dễ mắc bệnh?

Các tĩnh mạch của chi dưới được chia làm ba hệ thống: hệ tĩnh mạch sâu, hệ tĩnh mạch nông, hệ tĩnh mạch xuyên. Bệnh lý suy tĩnh mạch mạn tính thường xảy ra ở hệ thống tĩnh mạch nông. Cho đến nay chưa có một thống kê đầy đủ về loại bệnh này. Tuy nhiên theo dự báo của nhiều chuyên gia y tế, bệnh sẽ gia tăng cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thay đổi nếp sống ở nước ta.

Trên thực tế chỉ có một số người thuộc nhóm có nguy cơ cao là có thể bị bệnh này, trong đó, di truyền là mẫu số chung cho các bệnh nhân. Người có yếu tố di truyền dễ bị mắc bệnh hơn, do những thay đổi về enzyme trong mô liên kết. Ngoài ra, nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, do thai nghén, dùng thuốc ngừa thai, do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt, hoặc dùng giày không thích hợp. Tăng trọng quá mức cũng là một yếu tố nguy cơ.

Phẫu thuật cũng có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch, nhất là những phẫu thuật vùng tiểu khung như phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa, các thủ thuật khác như bó bột, bất động lâu trong gãy xương… tuy nhiên gần đây tầm quan trọng của các yếu tố nguy cơ này đã giảm bớt. Những bệnh nhân ăn kiêng theo chế độ nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.

Nhận diện các triệu chứng

Các triệu chứng thường gặp nhất trong giai đoạn đầu là phù hai chi dưới đi kèm cảm giác nặng chân, chuột rút về ban đêm, triệu chứng này sẽ bớt khi bệnh nhân kê chân cao khi ngủ. Về sau các triệu chứng nặng dần, xuất hiện các mảng rối loạn dinh dưỡng trên da và các tĩnh mạch giãn dần, nổi ngoằn ngoèo, có thể có những đợt viêm tắc tĩnh mạch với các triệu chứng nhiễm trùng toàn thân như sốt cao, môi khô lưỡi dơ và tại chỗ tĩnh mạch bị viêm đỏ, bên trong lòng xuất hiện những cục thuyên tắc cứng…

Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàng bao gồm nhìn thấy những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn ngoèo, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và sự xuất hiện của các u máu. Sờ để chẩn đoán độ cứng của phần mềm, đặc biệt là vùng trước xương chày, so sánh cả hai bên.

Ngoài ra có thể sờ thấy cả một đoạn tĩnh mạch cứng, phù nề, các cục thuyên tắc và xác định nhiệt độ của da. Các thầy thuốc chuyên khoa có thể áp dụng một số thủ thuật để đánh giá tình trạng của các van tĩnh mạch hiển trong như: thủ thuật Schwarz, thủ thuật ho, thủ thuật Trendelenburg và thủ thuật Perthe. Cuối cùng là bằng siêu âm Doppler màu mạch máu, cho phép xác định được những rối loạn huyết động học, tình trạng của các van tĩnh mạch, mức độ giãn của tĩnh mạch và các cục thuyên tắc trong lòng mạch để có biện pháp điều trị đúng đắn.

Điều trị tuỳ mức độ tổn thương

Có năm phương pháp điều trị chính nhằm kiểm soát hay chặn đứng sự trào ngược, loại bỏ trào ngược từ các tĩnh mạch nhánh và từ các mạch nối, cuối cùng là ngăn ngừa sự tràn ngập mô kẽ do dịch thấm ra từ các vi quản.

Phòng ngừa: nhằm chặn đứng sự trào ngược và làm cho các lực tác động lên dòng chảy của tĩnh mạch được tốt hơn. Bao gồm để chân cao khi nằm nghỉ, tập cơ mạnh hơn, tránh đứng hay ngồi lâu, mang vớ thun hay quấn chân bằng băng thun, sửa lại vị trí bàn chân đối với các dị tật, tập hít thở sâu, tránh béo phì, ăn nhiều chất xơ để tránh táo bón…

Băng ép: có tác dụng phục hồi áp suất chênh lệch giữa hai hệ thống tĩnh mạch nông và sâu thông qua hệ thống xuyên, giảm đường kính của lòng tĩnh mạch để tăng khả năng vận chuyển khi nghỉ ngơi cũng như khi gắng sức.

Điều trị nội khoa: dùng các thuốc làm bền thành mạch như Daflon, Rutin C, Veinamitol… nhưng phần lớn chỉ có tác dụng trong giai đoạn đầu. Một số thầy thuốc chuyên khoa còn áp dụng phương pháp tiêm gây xơ tại chỗ với các thuốc làm xơ hoá lòng mạch máu.

Phẫu thuật: hai phương pháp chính là Stripping (lấy bỏ các tĩnh mạch nông bị giãn bằng dụng cụ chuyên dùng cho phép rút các tĩnh mạch như chúng ta làm lòng gà), và phương pháp Chivas (lấy các đoạn tĩnh mạch bị giãn của hệ thống xuyên, đây là phương pháp điều trị khá triệt để, có tỷ lệ tái phát thấp nhất). Người ta còn áp dụng phương pháp làm lạnh với nitơ lỏng âm 900C để làm nghẹt lòng tĩnh mạch qua một ống thông. Tuy nhiên, phương pháp này có tỷ lệ tái phát khá cao: đến 30% các trường hợp.

Phòng và điều trị phù nề

Điều trị phù thường gồm:

Điều trị nguyên nhân cơ bản của các phù.

Dùng thuốc để tăng sản lượng nước và natri của thận (thuốc lợi tiểu), bao gồm cả thuốc lợi tiểu thiazide, furosemide hoặc spironolactone.

Hạn chế muối trong chế độ ăn uống để giảm giữ nước, như khuyến cáo của bác sĩ.

Trong một số trường hợp, thuốc lợi tiểu có thể không thích hợp để điều trị phù nề, chẳng hạn như trong một số những người có suy tĩnh mạch mạn tính hoặc trong hầu hết các phụ nữ mang thai.

Phong cách sống và biện pháp khắc phục

Sau đây có thể giúp giảm phù nề và giữ tránh tái phát. Trước khi thử những kỹ thuật tự chăm sóc này, nói chuyện với bác sĩ về các loại phù hợp.

Vận động. Di chuyển và sử dụng các cơ bắp ở phần của cơ thể ảnh hưởng bởi phù nề có thể giúp bơm chất lỏng dư thừa trở lại trái tim. Hãy hỏi bác sĩ về các bài tập có thể làm có thể làm giảm sưng.

Nâng cao. Giữ một phần của cơ thể bị phù lên trên mức của tim cho ít nhất 30 phút, ba hoặc bốn lần một ngày. Trong một số trường hợp, nâng cao các phần cơ thể bị ảnh hưởng trong khi ngủ có thể hữu ích.

Massage. Vuốt ve vùng bị ảnh hưởng nhưng không gây đau, áp lực có thể giúp di chuyển trong chất lỏng dư thừa của khu vực đó.

Nén. Nếu một trong những tay chân bị ảnh hưởng bởi phù, bác sĩ có thể khuyên nên mang vớ nén, tay áo hay găng tay. Các sản phẩm may mặc giữ áp lực trên chân tay để ngăn ngừa dịch thu thập ở mô.

Giảm lượng muối. Thực hiện theo đề nghị của bác sĩ về việc hạn chế lượng muối tiêu thụ.

Tránh nhiệt độ cực đoan. Đột ngột thay đổi nhiệt độ và nhiệt độ rất nóng và rất lạnh có thể làm cho phù tồi tệ hơn. Tránh tắm nước nóng, tắm nước nóng bồn tắm nóng và phòng tắm hơi. Bảo vệ bản thân khỏi bị cháy nắng. Ăn mặc ấm khi đi ra ngoài ở nhiệt độ lạnh và biện pháp phòng ngừa để bảo vệ mình khỏi bị tê cóng.

Cách xử lý

Việc điều trị chân bị phù nề phụ thuộc nhiều vào nguyên nhân gây ra. Ngoài việc gối cao chân khi ngủ, một trong những điều trị đầu tiên mà bác sỹ thường khuyên bạn là nâng cao hai chân ở trên mức độ ngang ngực. Ngoài ra, uống thuốc chống viêm nhiễm cũng có thể giúp giảm phù nề.

Nếu như chân bị phù nề trong thời gian dài, kèm theo cảm giác khó thở và tăng cân, bạn nên đi khám bác sỹ nhé.

Vài mẹo giảm phù nề cho chân:

– Cắt giảm lượng muối trong chế độ ăn uống hằng ngày vì muối góp phần tích trữ chất lỏng.

– Uống nhiều nước.

– Kê cao chân. Tập thể dục thường xuyên cho chân từ 10-15 phút, 3-4 lần/ngày để giúp chân lưu thông máu. Tăng cường hoạt động cơ bắp với đi bộ, bơi lội. Mỗi 1-2 giờ, hãy đứng dậy và đi bộ.

– Không lạm dụng thuốc nhuận tràng

– Tránh đứng tại chỗ, tránh ngồi lâu trong khoảng thời gian dài.

– Cẩn thận với một số loại thuốc. Ví như một số loại thuốc, bao gồm chống viêm nhiễm có thể ngăn chặn sự hoạt động của can xi khiến chân bị phù nề.
Chính sự chậm trễ và điều trị không đúng đã làm người bệnh dễ gặp biến chứng nặng, có thể gây nguy hiểm cho tính mạng.

Trước tiên là các biến chứng về rối loạn huyết động học. Nặng hơn bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng. Giai đoạn cuối có thể dẫn đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị. Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, đưa đến tử vong!

Hỏi đáp liên quan

Hỏi: Bố của tôi năm nay 65 tuổi, trước đây sức khỏe của bố tôi khá tốt, không hay bị ốm vặt, ăn uống, ngủ đều đặn. Tuy nhiên thời gian gần đây, đặc biệt là sau Tết Nguyên Đán vừa rồi, bố tôi có hiện tượng bị phù chân, chán ăn, người mệt mỏi….

Bố tôi có uống rượu, bia, cafe và bị huyết áp cao. Vậy cho tôi hỏi bố tôi có biểu hiện của bệnh gì? Xin chân thành cảm ơn các bác sĩ!
(Chung Thuy – hoalansan… @gmail.com)

Chào bạn,

Phù là tình trạng ứ dịch ở các mô trong cơ thể (chủ yếu là ở mô liên kết) một cách bất thường. Phù có thể toàn thân hoặc khu trú ở mặt, ở chân…

Phù 2 chân có thể nhiều nguyên nhân:

– Do tư thế ngồi, đứng lâu, khi nằm gác chân cao sẽ hết. Do suy tĩnh mạch chân , khi đứng lâu sẽ phù kèm mỏi, nặng chân, thỉnh thoảng có vọp bẻ.

– Do thiếu vitamin B1: ở những người ăn uống thiếu chất kéo dài, suy dinh dưỡng, phù kèm theo tê bì chân.Thường ăn uống đầy đủ và bổ sung vitamin B1 sẽ hết phù.

– Do suy tim phải, phù hai chân, kèm khó thở, tĩnh mạch cổ nổi, gan to.

– Do xơ gạn phù hai chân kèm báng bụng, vàng da niêm, chán ăn, mệt mỏi…

Bố bạn đã lớn tuổi, lại có bệnh cao huyết áp thì có thể kèm bệnh tim mạch. Bạn nên đưa bố đi khám chuyên khoa tim mạch hoặc nội tổng quát để làm thêm một số xét nghiệm cần thiết tìm nguyên nhân và có hướng điều trị thích hợp.

Nguồn tổng hợp
® Bản quyền thuộc về tác giả và nguồn tin được báo mới số trích dẫn. Đọc báo mới cập nhật sự kiện 24h qua tin tức mới nhất, nhanh và hay nhất trong ngày tại: Báo mới 24h
Từ khóa:
Bình luận